TRANG NHÀ Băng Đọc Âm Nhạc Băng Giảng Audio Băng Giảng Video Biên Khảo Bồ Đề Tâm Luận Bồ Tát Giới Luật Bồ Tát Truyện Đại Thừa Kinh Điển Mật TôngTịnh Độ Hình Ảnh Phim Ảnh Liên Kết

 

ENGLISH PAGE Bodhicitta Sastras Bodhisattva Silas Bodhisattva Stories Buddhist PicturesBuddhist MoviesMahayana Sutras Pure Land Vajrayana Other Works Preaching Audio Preaching Video Stories and Musics Links

 
Khuyên Kiêm Trì Kinh Địa Tạng
 

 

KHUYÊN HÀNH GIẢ TỊNH ĐỘ

KIÊM TRÌ TỤNG KINH ĐỊA TẠNG

Tâm Nhiên biên soạn

Thích Pháp Chánh dịch

 

9/ Bàn Về Kinh Địa Tạng Đối Với Phương Pháp Cứu Tế Khẩn Cấp Lúc Lâm Chung.

Giới Bảo thuật

            Thường nghe chư Phật Bồ Tát vô duyên đại từ, đồng thể đại bi, ngay cả những chúng sanh phạm tội ngũ nghịch thập ác cũng không bỏ rơi. Người viết xin chứng minh rằng đó là điều chân thực, không hề hư dối. Người viết học Phật đã được hai năm, trước khi biết Phật pháp, trong đầu chỉ toàn là những tư tưởng mưu lợi, làm bất cứ việc gì cũng chỉ nghĩ đến lợi cho mình trước, và sẳn sàng bất chấp thủ đoạn để đạt đến mục đích. Trong xã hội đạo đức đang xuống dốc, tôi nghĩ rằng nếu không “ma lanh” thì sẽ không giành phần thắng. Nhân đây, tôi rất thích nghiên cứu về những phương cách tiến thoái tung hoành, hơn nữa, cảm thấy rất đắc ý với những mưu mô của mình. Thế nhưng, tôi càng lúc càng làm mất lòng người, mà sự khổ não của chính mình cũng càng lúc càng gia tăng. Hai năm trước, ngẫu nhiên gặp được Phật pháp, có cảm tưởng như uống được một liều thuốc mát, thân tâm đột nhiên trở nên thanh thản, từ đó tin tưởng hành trì Phật pháp, tụng kinh lễ bái, an phận thủ kỷ, sinh hoạt trở nên bình an thuận lợi hơn trước rất nhiều. Mỗi khi gặp tai nạn khẩn cấp, cầu chư Phật Bồ tát gia bị, đều cảm thấy như có một lực lượng vô hình trợ giúp, mà rồi mỗi lần như thế đều tai qua nạn khỏi. Lần này, khi mẹ tôi lâm chung, thì sự cảm ứng lại càng rõ ràng, cho nên, nguyện đem những kinh nghiệm này ghi ra đây kính xin các bạn đồng tu tham khảo.

            Mẹ tôi họ Ngô, từ lâu đã quy y Nhất Quán Đạo [1], ăn chay trường, thần Phật đều lễ lạy. Hơn hai mươi năm trước, tôi không biết giáo lý đạo Phật, thành thử hay khuyên mẹ tôi ăn thịt, với lý do tăng gia dinh dưỡng, cho rằng đó là đạo hiếu, mẹ tôi bị thuyết phục lâu ngày, rốt cuộc bà đã ngã mặn. Thế nhưng chẳng bao lâu, bà không quen với mùi hôi tanh, bèn ăn chay trở lại, trong khoảng thời gian đó, bà đi lễ gái khắp nơi, đền thờ Nhất Quán Đạo, chùa chiền Phật giáo, không những chỉ cúng dường bố thí, mà còn tham gia vào các pháp hội tiêu tai giải nạn, v.v… Trong vùng tôi ở, trình độ văn hóa không cao, càng ít nghe đến Phật pháp, cho nên mẹ tôi đi lễ Phật ở các chùa vùng xa, âu cũng là điều đáng quý.

            Sáu năm trước, mẹ tôi bị mắc chứng “não suy”, từ từ mất trí nhớ, khoảng ba năm sau, hoàn toàn bị mất ký ức. Từ đó, những việc như ăn uống, tắm rửa, đại tiểu tiện đều phải nhờ người khác giúp. Tục ngữ có câu: “Bệnh lâu không có hiếu tử”. Sự thống khổ của bà, có thể trông thấy thật rõ ràng. Khoảng năm rưỡi trước, tôi được phê chuẩn thuyên chuyển về miền bắc, để có cơ hội phục vụ cho mẹ. Lúc đó, mẹ con không còn nhớ gì, kể cả đứa con ruột của mình, thế nhưng, thân thể vẫn khỏe mạnh, đi đứng vẫn cứng cáp. Vì muốn đề phòng những trường hợp củi lửa, điện nước, đại tiểu tiện, hoặc sợ bà đi lạc, tôi suy nghĩ rất nhiều biện pháp để an trí bà cụ, thế nhưng tìm không ra cách nào khác, bèn để bà cụ trú trong gian phòng duy nhất trong nhà, sống trong đó hơn hai năm.

           Nhớ lại, mẹ tôi lao khổ hơn năm, sáu mươi năm, mỗi ngày bương chải ruộng nương, làm việc khổ nhọc không ngừng, t đến nỗi đậu hủ cũng không dám mua nhiều, như vậy, ngày hôm nay con cái trưởng thành, đến lúc tuổi già để hưởng chút an nhàn, lại mắc phải chứng bệnh như vậy. Đời người là khổ, sự kinh lịch của mẹ già là một điều mà tôi vĩnh viễn ghi khắc vào lòng. Trước khi mẹ tôi mất ba tháng, thần chí của bà đã suy thoái đến cực điểm (lúc đó bà được bảy mươi hai tuổi). Trong lúc trời rất lạnh, vừa giúp bà mặc áo ấm vào, một lúc sau lại thấy bà cởi ra, nhiều khi bà bị buốt đến run lật bật; vấn đề đại tiểu tiện lại càng khó khăn không thể diễn tả. Nhìn thấy mẹ bị khổ như vậy, tôi liên tưởng đến địa ngục, liên tưởng đến ba cõi như nhà lửa, biển khổ vô biên, mẹ tôi làm sao mà chịu đựng được!

            Ngày 28 tháng 9 năm 1983, tự nhiên tôi cảm thấy lương tâm cắn rứt, chẳng lẽ để mẹ già kéo dài sự thống khổ như vầy, chi bằng cầu nguyện cho cụ vãng sanh Tịnh Độ, đây có phải là phạm tội bất hiếu hay không? Tuy đã phải trải qua một cuộc dằng co không ngừng giữa tình cảm và lý trí, tôi cũng chưa quyết định được. Không biết phải làm sao, bèn đi lên Kim Sơn Thiền Tự, cầu khẩn thầy bổn sư quy y của tôi là ngài pháp sư Tri Giác, nhờ ngài từ bi khai thị, mới biết rằng cầu cho mẹ vãng sinh Tịnh độ không phải là tội bất hiếu. Nhân đây, tôi bèn phát nguyện trước chư Phật: “Cho đến khi mẹ con mất, mỗi ngày nguyện niệm Phật ngàn câu trở lên, tụng chú Đại Bi hai mươi biến trở lên, và tùy sức tu hành các công đức, hồi hướng cầu cho mẹ vãng sanh Tịnh độ.” Hơn nữa, mỗi ngày đều lạy Phật cầu nguyện: 1/ Nguyện cho mẹ giảm bớt sự khổ đau, sớm sanh Tịnh độ, tất cả tội chướng khổ báo của mẹ, con xin nhận thế; 2/ Nguyện mẹ lúc lâm chung ít bị thống khổ, chết trong an lành; 3/ Nguyện được ở bên cạnh hầu hạ bên cạnh, giúp mẹ niệm Phật, để được sớm vãng sanh.

Mẹ tôi tuy bị mất trí nhớ nhiều năm, nhưng thân thể rất khỏe mạnh, bổng nhiên vào tối ngày 23 tháng 12 năm 1983, nằm trên giường không dậy, không chịu ăn uống gì nữa. Thoạt tiên, tôi định đưa bà vào nhà thương, thế nhưng nghĩ lại mẹ đã lớn tuổi, nếu như có việc gì, e rằng sẽ mất chánh niệm, tôi bèn bảo người nhà luân phiên chăm sóc, niệm Phật ngày đêm, cầu nguyện cho mẹ vãng sanh. Trải qua hai ba ngày, bà vẫn nằm yên trên giường, phần lớn là hình như đang ngủ, không hề biểu lộ sự thống khổ gì cả, nhưng thân thể càng lúc càng gầy ốm. Tôi biết mẹ không còn sống bao lâu, nghĩ đến bà một đời gian khổ, trì trai giữ giới mấy chục năm nay, đời này đã thế, chẳng lẽ không mưu cầu hạnh phúc đời sau cho bà. Ngoài việc tăng gia niệm Phật, tôi chợt nghĩ đến Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, phẩm thứ 12, Thấy Nghe Lợi Ích nói: “Lúc lâm chung, cha mẹ anh em, đem những nhà cửa, tài vật, trân báu, y phục, v.v.. bán đi, lấy tiền tô vẽ hình tượng Bồ Tát Địa Tạng. Người đó nếu vì nghiệp báo phải bị bệnh nặng, nhơ công đức này sẽ được lành bệnh, tuổi thọ tăng thêm. Còn nếu người đó thọ mạng đã hết, phải đọa vào đường ác, nhờ công đức này, sau khi mạng chung, sẽ được sanh cõi trời, người, hưởng thọ phước báo thù thắng, tất cả tội chướng đều được tiêu diệt.” Nhân đây, tôi bèn cấp tốc thâu góp được hai vạn đồng để ấn tống ba loại: Kinh Địa Tạng (thoạt tiên dự trù lấy tiền đi tạo tượng, nhưng vì thời gian gấp rút, không thể thực hiện), Kinh Kim Cương và quyển Một Việc Quan Trọng Nhất Lúc Lâm Chung để gieo duyên, lại còn cúng dường một tượng Phật mạ vàng cho Di Lặc Nội Viện, sau đó kề tai nói nhỏ với mẹ tôi: “Thưa mẹ, mẹ lúc trước ăn chay trường, lạy Phật, tin Phật. nay đem số tiền mà mẹ cực khổ dành dụm được hai vạn đồng đem đi ấn kinh, tạo tượng. Hồi đó mẹ thường quyên tiền cúng dường nhang đèn, xây chùa, mùa hè thì bố thí trà, nước, mùa đông thì bố thí gạo trắng, quân áo, làm thiện rất nhiều, Phật Bồ Tát nhất định sẽ gia hộ cho mẹ, Phật A Di Đà nhất định đến tiếp dẫn, nếu có những kẻ khác đến rước, xin mẹ đừng đi theo họ nhe!  Chỉ khi nào Phật A Di Đà đến mới đi theo ngài!” Lại còn đi thỉnh tượng Tây Phương Tam Thánh về cho mẹ xem. Mỗi ngày đều đến nhắc nhở bà mấy lần, đến lúc mẹ nằm trên giường được bảy ngày, khi chúng tôi giúp bà cử động, bà cảm thấy rất đau đớn, cất tiếng rên la không ngớt, tôi lại nghĩ rằng không biết có nên đưa bà đi bệnh viện hay không. Bấy giờ, mẹ tôi gầy gò như que củi, ắt là không thể nào nhẫn chịu nổi sự đau đớn khi bị di động, chỉ cần hơi động một chút là kêu đau. Nếu như mẹ tôi vẫn còn có thể lây lất sống thêm một đoạn thời gian nữa, tại sao tôi không đưa bà đi bệnh viện, tìm cách giảm bớt sự thống khổ cho bà? Trong thời gian đó, có mời bác sĩ đến nhà chích thuốc, thế nhưng vẫn không giảm bớt sự đau đớn. Tôi cảm thấy vô cùng khó xử, tiến thoái lưỡng nan. Trong lúc băn khoăn do dự, tôi lại nhớ đến phẩm thứ sáu “Như Lai Tán Thán” trong Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện dạy: “Nếu trong đời sau, có người nam người nữ nào, bệnh nằm liệt giường, cầu sống không được, cầu chết không được, hoặc đêm mộng thấy ác quỷ, hoặc thấy người thân, hoặc đi vào chỗ nguy hiểm, hoặc bị ma đè, hoặc cùng đi với quỷ thần, lâu ngày lâu tháng, càng lúc càng nặng, trong giấc ngủ kêu réo khổ sở. Đây là vì nghiệp báo chưa định nặng nhẹ, cho nên chưa chết, hoặc khó lành bệnh. Người phàm mắt tục, khó mà biện biệt.  Thân nhân nên vì người bệnh lớn tiếng đọc tụng kinh này một lần. Hoặc đem đồ vật yêu thích của người bệnh, hoặc y phục, trân báu, ruộng vườn nhà cửa, đến trước người bệnh lớn tiếng nói rằng: “Tôi là …, nay vì người bệnh, đem những tài vật này, hoặc cúng dường kinh, tượng, hoặc tạo vẽ hình tượng chư Phật Bồ tát, hoặc xây cất chùa tháp, hoặc mua dầu đèn, hoặc bố thí cho thường trụ.” Nói như vậy ba lần, cho người bệnh nghe biết. Giả như thần thức của người bệnh phân tán, nhẫn đến hơi thở đã tắt, thì hoặc một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, cho đến bảy ngày, cứ lớn tiếng bẩm bạch, lớn tiếng tụng kinh, thì người bệnh sau khi mệnh chung, những tội nặng mà người bệnh đã tạo, nhẫn đến năm tội vô gián, đều được giải thoát. Sanh đến nơi nào, đều biết quá khứ của mình.”

            Trong mười ngày vừa qua, chúng tôi không ngừng niệm danh hiệu Phật, quên bẳng rằng lúc mẹ tôi còn khỏe mạnh, bà chưa hề tu pháp môn niệm Phật, e rằng khó tương ưng. Hôm nay, thốt nhiên nhớ đến đoạn kinh vừa nói, liền tụng cho bà một thời Kinh Địa Tạng, sau đó niệm một chung nước “Đại Bi” đem cho bà uống. Đến trưa ngày hôm sau, chuyển thân của mẹ để thoa bóp, thì chẳng ngờ phát giác là bà không còn kêu đau nữa, mà lại có vẻ thoải mái an tường. Chúng tôi tiếp tục niệm Phật không dứt, hai tay bưng bức tượng Tây Phương Tam Thánh cho bà nhìn, lại còn nhắc cho bà biết khi trước bà đã làm rất nhiều việc thiện, Phật Tổ sẽ rước bà đến cõi Tây Phương Cực Lạc tốt lành. Một điều kỳ dị là mấy năm nay bà gần như mất hẳn trí nhớ, thế mà hiện nay hình như nghe hiểu những gì chúng tôi nói. Mỗi khi nói với mẹ những chuyện quá khứ, bà đều rơm rớm nước mắt. Trong vòng mấy mươi ngày, anh em chúng tôi quyên góp được bảy chục ngàn đồng, cúng dường Tam Bảo, và mỗi việc đều nói rõ cho mẹ biết, hơn nữa, mỗi ngày đều niệm Phật lạy Phật, cầu nguyện ánh sáng chư Phật gia bị, khiến cho mẹ dễ dàng trong việc vãng sanh.

            Đến tối ngày thứ mười ba, đúc cho mẹ ăn món mà bà thích, một muỗng lớn apple sauce (táo xay). Chúng tôi vẫn tiếp tục niệm Phật không ngừng, tôi cảm thấy tinh thần sảng khoái, không buồn ngủ, lại bưng tượng Tây Phương Tam Thánh cho mẹ nhìn. Mẹ tôi mở mắt lớn nhìn vào bức tượng, nhìn mãi cho đến mười hai giờ năm mươi, thì bắt đầu thở nhanh, khoảng năm phút sau thì tắt thở, không hề có một sự dằng co đau đớn nào cả. Tôi, vợ tôi và đứa em trai tiếp tục niệm Phật cho đến tám giờ sáng. Sau đó thỉnh pháp sư đến trợ niệm đến mười hai giờ trưa. Trong những lúc tạm ngưng thì mở máy niệm Phật. Sau đó thì những thân quyến lần lượt kéo đến, trách mắng tại sao không chịu sớm lau rửa thay y phục cho bà cụ, rũi thân thể cứng đơ thì sao? Tôi không có thì giờ giải thích, mặc ai muốn nói gì thì nói. Đến ba giờ trưa, lúc thay y phục cho mẹ, thì phát hiện ngoài ý muốn là thân thể của bà vẫn mềm mại như lúc bình thường, lúc đó chẳng còn ai cằn nhằn nữa. Đến sáng ngày hôm sau nhập liệm (bà mất đã hơn ba mươi tiếng đồng hồ), phát hiện thân thể bà vẫn còn mềm mại như thường.

            Trong lúc sắp xếp việc an táng cho mẹ, chúng tôi bị nhiều thân hữu đàm tiếu. Người đời phần lớn chỉ thích phô trương trình diễn, nhưng chúng tôi thì lấy sự sinh tử họa phước của mẹ làm trọng, giảm thiểu chi phí, dành dụm tiền bạc để đóng góp vào những việc hữu ích. Tuy chúng tôi cố gắng bài bác nhiều đề nghị, rốt cuộc vẫn không tránh khỏi những phung phí vô ích như giàn hoa, đội kèn trống, cúng phẩm, xây mộ, áo tang, v.v… tốn mất bốn năm chục ngàn. Kế đến, liên quan đến việc tế độ vong linh, hiện nay thịnh hành ngoài xã hội là việc làm công đức, mời mấy thầy cúng về tụng kinh, không có một ý nghĩa nào về sự cúng dường, mà lại càng không có sự kiền thành cung kính. Khi nào thương lượng tiền bạc ổn thỏa thì họ mới đến tụng kinh, chẳng khác nào giao dịch mua bán, như vậy người chết làm sao được sự lợi ích chân thực? 

            Y vào lời dạy của Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện, chúng ta có thể biết rằng muốn làm việc phước thiện cho người chết được siêu thăng, phải dùng tài vật cung kính cúng dường Tam bảo (hoặc quyên tặng các cơ quan từ thiện cũng được), đem công đức này hồi hướng cho người chết, làm cho họ được tăng thêm phước nghiệp, sanh về cõi lành. Nếu dùng tiền mời thầy đến tụng kinh, thì đã mất ý nghĩa bố thí, huống chi là những hội đoàn chuyên môn làm nghề tụng kinh lấy tiền (đa số không phải là Phật tử, không hiểu Phật pháp, không tu Phật hạnh, không trì trai giới, làm gì có đủ công đức để siêu độ người khác? Chưa nói đến việc họ mang hình tướng thế tục, chưa có đủ tư cách để nhận thọ sự cúng dường). Thậm chí, lại còn có “ni cô” điều khiển bằng điện, thật là vừa phí tiền vừa làm ô nhục thánh pháp, tội lỗi thật là vô lượng!

            Người đời đã như thế, tôi không tránh khỏi áp lực, đành phải chiều theo, cho nên ngày di quan cũng mời thầy cúng đến tụng kinh. Trong thời gian bốn mươi chín ngày, chúng tôi tận lực quyên góp ngân khoản, cúng dường các chùa ở khắp nơi, hồi hướng cho mẹ phước lực tăng trưởng, vãng sanh Cực Lạc. Lại còn đến Thừa Thiên Thiền Tự ở Thổ Thành lập Vãng Sanh Liên Vị (bài vị) cho mẹ, từ đó cứ mỗi thất đều đến chùa tham dự khóa tụng kinh tối để hồi hướng công đức, gia đình không còn mời thầy cúng đến tụng kinh nữa. Còn tôi thì vẫn tụng kinh A Di Đà, kinh Địa Tạng, niệm Phật, v.v… mỗi ngày để hồi hướng cho bà. Lại trong các ngày tang lễ, toàn thể gia đình ăn chay, và dùng đồ chay để cúng dường đại chúng. Sau đó, nhớ đến ngài Pháp Xứng Thượng Sư ở Liên Hoa Tinh Xá ở Tân Điếm, mỗi tháng đều có tổ chức siêu độ vong linh, bèn đến đăng ký cầu siêu độ cho mẹ. Nhớ lại pháp hội Tiến Vong, trang nghiêm trịnh trọng, Thượng Sư tác pháp viên mãn trong khoảng một tiếng rưỡi đồng hồ. Thượng Sư hình như thấy rõ những vong linh đến đạo trường thọ giáo, thế nhưng, tôi ngại ngài tuổi tác đã cao, thân thể mệt mỏi, thành thử không dám hỏi nhiều, sau khi pháp hội hoàn tất bèn vội vả cáo từ ra về.

            Tử vong là một sự việc quan trọng mà không ai tránh khỏi, họa phước của người mất, tùy thuộc vào họ hàng thân quyến của họ, trong khoảnh khắc lâm chung, và bốn mươi chín ngày sau khi chết, có thành kính làm phước cầu siêu độ hay không. Người chết thì đã hết, không còn năng lực tu hành để tự cứu, chỉ còn cách nương vào người thân làm phước hồi hướng cho họ. Kinh Địa Tạng dạy: “Trong vòng bốn mươi chín ngày, trong từng khoảnh khắc, trông mong quyến thuộc tu phước cứu độ. Sau khoảng thời gian đó thì họ phải tùy theo nghiệp mà đi thọ báo. Nếu đó là người tạo tội, thì họ phải ở trong địa ngục trăm ngàn vạn kiếp, không có ngày giải thoát. … Nếu như thức ăn không đúng phép hoặc không tinh khiết, thì người mất kia không được phước báo nào cả. Nếu như thức ăn tinh khiết, đúng phép, cúng dường Phật, Tăng, thì người mất kia, bảy phần công đức được hưởng một phần.” Người xưa có nói: “Muốn được sự ích lợi chân thật, cần phải cung kính nguyện cầu.” Hiện nay, tuy có nhiều người tụng kinh niệm Phật cho người mất, thế nhưng, có thái độ thành kính hay không, thì không chắc người nào cũng làm được. Những sự phô diễn hình thức, hoặc sự mua bán đổi chác, đây đều là đi ngược với bổn hoài của chư Phật.

            Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện là Kinh Hiếu của Phật giáo. Những ai muốn báo hiếu cho cha mẹ, tôn trưởng, không thể không thỉnh về đọc tụng. Đặc biệt nặng về sự cứu bạt những chúng sanh lúc lâm chung vì tạo nghiệp mà phải bị đọa vào ác đạo. Phẩm mười ba, Phó Chúc Trời Người, dạy: “Trong đời vị lai, nếu có người hoặc trời nào, bị nghiệp phải đọa và ác đạo, hoặc đến cửa địa ngục. Giả như bọn họ hoặc có thể niệm một danh hiệu Phật, hoặc danh hiệu Bồ tát, hoặc một câu một kệ kinh điển Đại thừa, thì ông nên dùng thần lực, hiện vô biên thân, đến chỗ người đó, đập nát địa ngục, khiến cho họ sanh về cõi trời người, thọ khoái lạc thù thắng.” Lại nữa, kinh cũng dạy: “Trong tất cả thế giới đời hiện tại hoặc vị lai, nếu có chúng sanh sắp mạng chung, nghe được danh hiệu Bồ tát Địa Tạng lọt qua tai một lần, thì những chúng sanh đó vĩnh viễn không còn bị đọa vào ba đường ác.” Từ những đoạn kinh văn vừa trích dẫn ở trên, có thể thấy rằng Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện là một pháp môn cấp cứu. Hiện nay, xin trích dẫn những đoạn kinh văn đề cập đến sự cứu tế khẩn cấp khi mạng chung như sau: “Những chúng sanh cõi Diêm Phù Đề, lúc sắp mạng chung, thần thức hôn mê, không biện biệt được thiện ác, mắt tai không còn thấy nghe gì nữa, họ hàng quyến thuộc của người đó phải nên tu đại cúng dường, đọc tụng kinh này, và niệm danh hiệu chư Phật Bồ tát. Những thiện duyên như thế, có thể khiến cho người mất không bị đọa vào đường ác, các quỷ thần ác thảy đều rút lui. Bạch đức Thế Tôn! Tất cả chúng sanh, lúc sắp mạng chung, nếu nghe được một danh hiệu Phật, một danh hiệu Bồ tát, hoặc một câu một kệ kinh điển Đại thừa, con quán xét thấy người đó, ngoại trừ những tội nặng vô gián, tất cả tội khác, dù phải đọa vào ác đạo, đều được giải thoát.” (Phẩm thứ tám, Diêm Vương Tán Thán).

            “Nếu có người nam người nữ, lúc còn sống không biết tu thiện, phần nhiều tạo ác. Sau khi người đó mạng chung, họ hàng quyến thuộc vì họ tu tập phước nghiệp, thì trong bảy phần, người mất được hưởng một phần, còn họ hàng quyến thuộc được hưởng sáu phần.”

            “Chúng sanh Diêm Phù Đề, trong lúc mạng chung, cẩn thận chớ nên sát hại, và tạo nghiệp ác, lễ bái quỷ thần, cầu cạnh yêu mị. Vì sao? Vì nếu làm việc sát hại, nhẫn đến lễ bái, đều không được tí lợi ích gì cho người chết, mà lại còn làm cho tội báo của họ tăng thêm.”

“Lúc sắp mạng chung, cha mẹ họ hàng, nên vì người chết tu phước, để làm tư lương cho họ đời sau. Hoặc treo tràng phan, hoặc thắp hương đèn, hoặc đọc tụng kinh này, hoặc cúng dường tượng Phật, và chư Bồ tát. Nhẫn đến niệm danh hiệu Phật, Bồ tát, và Bích chi phật. Một danh một hiệu lọt vào lỗ tai, hoặc nghe bằng tâm thức. Thì người mất đó, dù đã tạo nghiệp ác phải đọa ác đạo, nhờ công đức của họ hàng quyến thưộc tu tập phước lành đó mà tất cả tội chướng đều được tiêu diệt. Nếu như trong vòng bốn mươi chín ngày lại vì người mất rộng tu phước thiện, thì có thể khiến cho họ, vĩnh viễn xa lìa ác thú, sanh cõi trời người, hượng thọ phước báo thù thắng, mà họ hàng quyến thuộc đời này cũng được vô lượng lợi ích.”

Tóm lại, bút giả ôm tấm lòng tha thiết muốn chuộc tội, hổ thẹn đối với từ thân, thành thử không dám quên lãng lời dạy trong Kinh Địa Tạng, một câu một kệ đều xin y giáo phụng hành. Nhớ lại mẹ tôi trong sáu năm bị bệnh, sự khổ sở quả thật vô lượng, không thể nhẫn chịu nổi, có lẽ chỉ nhẹ hơn sự khổ ở địa ngục một chút là không bị giam cầm mà thôi. Từ quả truy xét nhân, tôi biết là tất cả mọi người trong gia đình họ Hàn chúng tôi đã tạo nhiều tội nặng, cho nên mới chiêu cảm khổ báo như vậy. Nếu như tôi (người viết) không biết quày đầu sám hối, quy y Tam bảo, nương nhờ vào từ ân của chư Phật, e rằng khổ báo không chỉ như thế này mà thôi. Đặc biệt là mẹ tôi thân thể khỏe mạnh, không có một chút bệnh tật nào cả, mà phải nằm liệt giường hơn mười bốn tháng (mới đầu không bị cảm sốt, không đau đớn, sau vì nằm quá lâu, lúc đó, di động mới thấy đau đớn). Lúc bà tắt thở, không có một chút thống khổ, mắt nhìn hình tượng Tây Phương Tam Thánh, tai nghe danh hiệu Phật, qua đời một cách an tường, giống như đang thiếp đi. Nếu không nhờ chư Phật Bồ tát từ bi gia hộ, làm sao có thể được như vậy? Ba mươi sáu tiếng sau khi chết, thân thể vẫn còn mềm mại như lúc còn sống, đủ chứng tỏ Phật lực không thể nghĩ bàn. Chúng tôi tha thiết tin rằng, cuộc đời mẹ tôi đời sau ắt phải tốt đẹp hơn hiện tại rất nhiều. Giả như chưa được vãng sanh Cực Lạc, cũng nguyện mẹ được sanh vào gia đình thiện tri thức, sớm biết Phật pháp, tinh tiến trên con đường Vô thượng Bồ đề.


[1] Nhất Quán Đạo thịnh hành tại Đài Loan, tương tự như đạo Cao Đài ở Việt Nam.



Trở Về Trang Mục Lục

 

 

 
Web-design by Thích Viên Tánh - Bồ Đề Tâm Học Hội - Bodhicitta Society 2006
Last Updated 10/25/2010