Mục Lục
Lời Giới Thiệu bản dịch Việt văn
Bài Tựa bản dịch Hán văn
[Phần 1]
A1. Phần tựa
1- Tán thán Phật Thích Ca
2- Tán thán Phật Di Lặc
3- Tán thán ngài Vô Trước
4- Tán thán Bồ Tát Địa
5- Nhân duyên ngài Vô Trước soạn Bồ Tát Địa
6- Nhân duyên luận chủ Tsong Kha Pa tạo luận này
7- Tổng luận trì giới
8- Hai Thừa Hiển, Mật đều phải trì giới
A2. Chánh thức giải thích giới phẩm
B1. Tổng nhiếp
B2. Phân thích
C1. Nói sơ lược về tự tính
D1. Giới tính
D2. Sự lợi ích thù thắng
[Phần 2]
C2. Nói tường tận về tất cả giới
D1. Giới pháp
E1. Phân biệt
F1. Phân biệt sở y
F2. Phân biệt tự tính
E2. Tự tính
F1. Luật nghi giới
F2. Nhiếp thiện pháp giới
G1. Lược nhiếp
G2. Nói chi tiết
G3. Nhiếp nghĩa
F3. Nhiêu ích hữu tình giới
E3. Nhân duyên đầy đủ
F1. Nhân duyên đầy đủ của luật nghi giới
G1. Không nuối tiếc dục lạc ở quá khứ
G2. Không ham thích dục lạc đời vị lai
G3. Không đắm mê dục lạc ở hiện tại
G4. Ưa thích chỗ vắng vẻ
G5. Lời nói, tư tưởng thảy đều thanh tịnh
G6. Không tự khinh miệt mình
G7. Nhu hòa
G8. Nhẫn nhục
G9. Không phóng dật
G10. Đầy đủ quỹ tắc tịnh mệnh
F2. Nhân duyên đầy đủ của nhiếp thiện pháp giới
G1. Tuần tự của năm ba la mật
G2. Tầng bậc của Tuệ ba la mật
[Phần 3]
F3. Nhân duyên đầy đủ của nhiêu ích hữu tình giới
G1. Làm bạn trợ giúp cho người cần trợ giúp
G2. Làm lợi ích cho người mê muội nghĩa lý
G3. Làm lợi ích cho những người ơn
G4. Cứu hộ những sự xâm hại, sợ sệt
G5. Làm cho những người đang ưu sầu khổ não được khai tâm mở ý
G6. Làm lợi ích cho người thiếu thốn
G7. Làm lợi ích cho người đến cầu nương tựa
G8. Tùy tâm chúng sinh mà làm lợi ích
G9. Làm lợi ích cho người tu chánh hạnh
G10. Làm lợi ích cho những người phạm tội
G11. Dùng thần lực làm lợi ích
E4. Thâu góp ý nghĩa chánh yếu
[Phần 4]
D2. Lãnh thọ giới pháp
E1. Thông nghĩa
E2. Bổn nghĩa
F1. Pháp có thầy truyền giới
G1. Nghi thức thọ giới
H1. Khải thỉnh
I1. Biện minh nhân vật
J1. Biện minh người thọ giới
J2. Biện minh người truyền giới
I2. Biện minh pháp thọ giới
J1. Biện minh pháp của người thọ giới
J2. Biện minh pháp của người truyền giới
H2. Đầy đủ tư lương
H3. Cung thỉnh nhanh chóng truyền giới
H4. Sinh khởi niềm vui thù thắng
H5. Hỏi theo thứ tự
G2. Nghi quỹ chánh hành
G3. Nghi quỹ chung hành
H1. Khải bạch thỉnh cầu chứng minh
H2. Tán thán công đức thọ giới
H3. Cúng dường báo ân
H4. Không được vội vàng trình bày, khai thị Bồ tát giới
F2. Pháp không có thầy truyền giới
[Phần 5]
D3. Phòng hộ giới pháp
E1. Nói tổng quát về phòng hộ giới
E2. Nói chi tiết về phòng hộ giới
F1. Các tội nên xả
G1. Tha thắng tội tụ
H1. Tự tính của tội tha thắng
I1. Thuyết minh của Luận Du Già
J1. Thông chi
J2. Biệt chi
K1. Vì lợi dưỡng cung kính, khen mình chê người (tội tha thắng thứ nhất)
K2. Bỏn sẻn không bố thí tài vật, Phật pháp (tội tha thắng hai)
K3. Đánh đập hữu tình, không xả oán kết (tội tha thắng thứ ba)
K4. Phỉ báng Bồ tát tạng, nói pháp tương tự (tội tha thắng thứ tư)
[Phần 6]
I2. Thuyết minh của các bộ luận khác (Học Tập Luận nói về tất cả tội căn bản)
J1. Các luận sư khác
K1. Nêu lên lập luận của các luận sư khác
L1. Bồ Đề Hiền
L2. Vô Úy Sinh
L3. Tây Tạng pháp sư 1
L4. Tây Tạng pháp sư 2
K2. Đả phá lập luận của các luận sư khác
L1. Phá ngài Bồ Đề Hiền
L2. Phá ngài Vô Úy Sinh
L3. Phá Tây Tạng pháp sư 1
L4. Phá Tây Tạng pháp sư 2
J2. Thuyết minh của Học Tập Luận
K1. Đối với tài vật của Tam bảo, không cho mà lấy (pháp tha thắng thứ nhất)
K2. Hủy báng xả bỏ chánh pháp (pháp tha thắng thứ hai)
K3. Xâm hại tổn thương xuất gia tỳ kheo (pháp tha thắng thứ ba)
K4. Tạo năm nghiệp vô gián (pháp tha thắng thứ tư)
K5. Khởi tà kiến, chấp chặt không bỏ (pháp tha thắng thứ năm)
K6. Phá hủy, tổn hoại trụ xứ (pháp tha thắng thứ sáu)
K7. Nói nghĩa lý thâm sâu cho những người không đủ trình độ (pháp tha thắng thứ bảy)
K8. Làm cho người khác thoái thất tâm Đại thừa (pháp tha thắng thứ tám)
K9. Làm cho người khác xả bỏ giới biệt giải thoát (pháp tha thắng thứ chín)
K10. Hủy báng pháp Thanh văn thừa (pháp tha thắng thứ mười)
K11. Tự khen mình và chê người (pháp tha thắng thứ mười một)
K12. Nói dối chứng đắc thượng nhân pháp (pháp tha thắng thứ mười hai)
K13. Cưỡng đoạt tài vật của Tam bảo (pháp tha thắng thứ mười ba)
K14. Kiến lập các pháp ác, v.v... (pháp tha thắng thứ mười bốn)
[Phần 7]
H2. Hậu quả của phạm tội tha thắng
H3. Phân biệt ba loại phiền não phạm giới
H4. Có thể khôi phục sự thanh tịnh đặc thù
H5. Nhân duyên xả bỏ Bồ tát tịnh giới
[Phần 8]
G2. Các tội vi phạm
H1. Nói tổng quát
H2. Giải thích tường tận
I1. Vi phạm lục độ nhiếp thiện pháp giới
J1. Chướng ngại Bố thí
K1. Chướng ngại tài thí (vi phạm thứ nhất)
K2. Chướng ngại sự đối trị san tham (vi phạm thứ hai)
K3. Chướng ngại vô úy thí
L1. Đối với thắng cảnh (vi phạm thứ ba)
L2. Đối với hằng cảnh (vi phạm thứ tư)
K4. Chướng ngại sự bố thí của người khác
L1. Không nhận sự mời thỉnh (vi phạm thứ năm)
L2. Không nhận đồ vật cúng dường (vi phạm thứ sáu)
K5. Chướng ngại pháp thí (vi phạm thứ bảy)
J2. Chướng ngại trì giới
K1. Chướng ngại sự lợi tha
L1. Chánh chướng giới lợi tha
M1. Bỏ phế người đáng thương xót (vi phạm thứ tám)
M2. Không học những điều giới chung với Thanh văn (vi phạm thứ chín)
M3. Tu học giới không cùng chung với Thanh văn (vi phạm thứ mười)
[Phần 9]
L2. Nêu rõ sự khác biệt giữa tính tội của giới Bồ tát và tính tội của giới biệt giải thoát
[Phần 10]
K2. Chướng ngại việc tự lợi
L1. Hủy phạm tịnh mệnh (vi phạm thứ mười một)
L2. Hủy phạm quỹ tắc (vi phạm thứ mười hai)
L3. Đắm mê ba cõi (vi phạm thứ mười ba)
K3. Chướng ngại việc lợi ích mình và người
L1. Không phòng hộ danh dự mình (vi phạm thứ mười bốn)
L2. Không dùng biện pháp mạnh để lợi ích chúng sinh (vi phạm thứ mười lăm)
J3. Chướng ngại nhẫn nhục
K1. Không chịu an nhẫn (vi phạm thứ mười sáu)
K2. Không xả bỏ tâm sân hận triền miên
L1. Không tự xả bỏ (vi phạm thứ mười bảy)
L2. Không tha thứ lỗi lầm của người khác (vi phạm thứ mười tám)
K3. Không khởi tâm đối trị phiền não (vi phạm thứ mười chín)
J4. Chướng ngại tinh tiến
K1. Ý hướng hành vi hạ liệt (vi phạm thứ hai mươi)
K2. Hành vi lười biếng (vi phạm thứ hai mươi mốt)
K3. Ham đàm luận vô ích (vi phạm thứ hai mươi hai)
J5. Chướng ngại thiền định
K1. Chướng ngại gia hành (vi phạm thứ hai mươi ba)
K2. Chướng ngại chánh hành (vi phạm thứ hai mươi bốn)
K3. Chướng ngại chung hành (vi phạm thứ hai mươi lăm)
[Phần 11]
J6. Chướng ngại trí tuệ
K1. Đối với liệt cảnh
L1. Không học pháp Tiểu thừa (vi phạm thứ hai mươi sáu)
L2. Chuyên tâm tu học pháp Tiểu thừa (vi phạm thứ hai mươi bảy)
L3. Chuyên tâm tu học giáo điển ngoại đạo (vi phạm thứ hai mươi tám)
L4. Đam mê tu học pháp ngoại đạo (vi phạm thứ hai mươi chín)
K2. Đối với thắng cảnh
L1. Ghét bỏ hủy báng cảnh giới trí tuệ (vi phạm thứ ba mươi)
L2. Có thể hủy hoại quả báo trí tuệ (vi phạm thứ ba mươi mốt)
L3. Có thể hủy hoại nhân của trí tuệ
M1. Không đi nghe chánh pháp (vi phạm thứ ba mươi hai)
M2. Có thể hủy hoại cảnh giới của sự nghe pháp (vi phạm thứ ba mươi ba
I2. Vi phạm nhiêu ích hữu tình giới
J1. Tổng tướng
K1. Không làm lợi ích (vi phạm thứ ba mươi bốn)
K2. Không cứu giúp người sầu khổ
L1. Không giúp trừ diệt sự khổ
M1. Không giúp đỡ người bệnh (vi phạm thứ ba mươi lăm)
M2. Không giúp diệt trừ sự khổ (vi phạm thứ ba mươi sáu)
L2. Không giúp diệt trừ nguyên nhân sự khổ (vi phạm thứ ba mươi bảy)
J2. Biệt tướng
K1. Không làm lợi ích
L1. Không biết báo ơn (vi phạm thứ ba mươi tám)
L2. Không an ủi người sầu khổ (vi phạm thứ ba mươi chín)
L3. Không cứu giúp người nghèo khổ (vi phạm thứ bốn mươi)
L4. Không khéo chế ngự đệ tử (vi phạm thứ bốn mươi mốt)
L5. Không tùy thuận người khác (vi phạm thứ bốn mươi hai)
L6. Không tán thán người có đức (vi phạm thứ bốn mươi ba)
K2. Không điều phục
L1. Đối với việc phi pháp, không chịu dùng uy đức chiết phục (vi phạm thứ bốn mươi bốn)
L2. Đối với việc trái ngược Thánh giáo, không chịu điều phục (vi phạm thứ bốn mươi lăm)
[Phần 12]
F2. Hộ trì tâm tướng của hành giả
F3. Phương tiện làm cho người phạm giới khôi phục thanh tịnh
F4. Mật ý của sự thuyết minh “tham là tội nhẹ”
F5. Phân biệt các tội phẩm thượng, trung, hạ
F6. An trụ trong nhân duyên an lạc
[Phần 13]
C3. Luận về sự khác biệt của các giới
D1. Nan hành giới
D2. Nhất thiết môn giới
D3. Thiện sĩ giới
D4. Nhất thiết chủng giới
D5. Toại cầu giới
D6. Thử thế tha thế lạc giới
D7. Thanh tịnh giới
C4. Sự lợi ích thù thắng của giới
D1. Sự lợi ích thù thắng rốt ráo
D2. Sự lợi ích thù thắng hiện đời
C5. Nhiếp tập giới tướng
C6. Hành nghiệp của giới
A3. Hậu phần. Chỗ y cứ và ý chỉ của luận chủ, khuyến khích kỳ nguyện ./.
Lời Giới Thiệu
Bản dịch Việt văn
Bồ Đề Chánh Đạo Bồ Tát Giới Luận, nguyên đề Tối Cực Thanh Tịnh Bồ Tát Giới Tạng Trì Giới Hành Tướng Bồ Đề Chánh Đạo Luận, là một trong những kiệt tác của Thượng sư Tsong Kha Pa, tổ sư khai sáng phái “Mũ vàng” của Mật tông Tây Tạng. Theo truyền thuyết, Thượng sư là hóa thân của Đức Văn Thù, thị hiện làm một nhà tôn giáo vĩ đại, một bậc học giả uyên bác, tinh thông Tam tạng, và cũng là một nhà canh tân vĩ đại của Phật giáo Tây Tạng vào thế kỷ thứ mười bốn!
Quyển Bồ Tát Giới Luận này phân tích, biện luận và giải thích phần Giới Ba La Mật của bộ Du Già Sư Địa Luận, một trước tác vĩ đại của hai ngài Di Lặc và Vô Trước thuộc trường phái Duy Thức. Trong đây, ngài Tsong Kha Pa đã phân tích tỉ mỉ, giải bày tường tận những áo nghĩa của Bồ tát giới luật, phô bày sự khác biệt giữa giới biệt giải thoát của Thanh văn và giới luật nghi của Bồ tát, cùng trình hiện tỏ tường năng lực vĩ đại của Bồ đề tâm là có thể làm cho một hành giả Bồ tát thừa phạm tội căn bổn, bất luận tại gia hay xuất gia, có thể hoàn toàn khôi phục lại sự thanh tịnh của giới thể Bồ tát của mình. Đây là một sự kiện “kinh động” mà Phật giáo Đại thừa Trung hoa và Việt nam chưa hề mơ tưởng tới. Hơn nữa, bộ luận này còn hé mở cho chúng ta thấy được chân trời siêu việt của lý tưởng Đại thừa, một sự sinh động tuyệt vời, một tinh thần cách mạng vĩ đại, cùng những sự hy sinh cao cả hùng tráng của những hành giả Đại thừa chân thật.
Trong quyển luận này, ngoài những điều giới vừa kể trên, ngài Tsong Kha Pha đã trích lục thêm mười bốn điều giới trọng từ quyển Đại Thừa Tập Bồ Tát Học Luận (gọi tắt là Học Tập Luận) của Bồ tát Tịch Thiên, đồng thời, khai triển các giới khinh thành bốn mươi lăm điều, thành thử, tổng cộng có mười tám giới trọng và bốn mươi lăm giới khinh. Ngoài ra, ngài còn tham khảo các bộ giới luận cùng các kinh điển khác để tìm lời giải đáp thỏa đáng nhất cho những sự thắc mắc hoặc nghi ngờ về ý nghĩa và công năng của Bồ tát giới luật.
Những điều giới Bồ tát trong phần Giới Ba La Mật đã từng được phiên dịch tại Trung quốc, lần thứ nhất do ngài Tam tạng Đàm Vô Sấm, dưới nhan đề Địa Trì Bồ Tát Giới Bổn, bao gồm bốn giới trọng và bốn mươi mốt giới khinh, lần thứ hai do ngài Tam tạng Huyền Tráng, dưới nhan đề Du Già Bồ Tát Giới Bổn, bao gồm bốn giới trọng và bốn mươi ba giới khinh. Hai quyển giới bổn này, tuy phiên dịch đã lâu, nhưng vì bị sự lưu truyền phổ biến của quyển Phạm Võng Bồ Tát Giới Bổn tại Trung quốc ảnh hưởng, lấn áp, cho nên đến nay, sự lưu hành của chúng vẫn còn rất hạn chế.
Bồ tát giới luật được phân tích và phát huy ở đây là gia sản chung cho cả Đại thừa Hiển giáo và Đại thừa Mật giáo, nó là nền tảng cơ bản và đồng thời cũng là một cấu trúc quy mô thiết yếu cho tất cả hành giả Đại thừa muốn đi trên con đường huy hoàng đến mục đích tối cao của mình là Vô thượng Bồ đề, chứ không phải là chỉ dành riêng cho những hành giả Mật thừa. Cúi xin các hành giả Đại thừa Hiển giáo đừng chỉ vì nhìn thấy tựa đề hoặc tên tác giả, rồi vội vàng cho đây là một tác phẩm của Mật tông mà lơ là, bác bỏ.
Đây là một kiệt tác vĩ đại về Bồ tát giới luật mà Phật giáo Đại thừa Trung hoa và Việt nam cần phải để tâm nghiên cứu, hầu có thể phát huy tinh thần và ý nghĩa chân thực của Bồ tát đạo. Ngưỡng mong chư vị thức giả hãy phát khởi sự đồng tình, cảm thông với những hành giả tôn sùng lý tưởng “thành Phật độ sinh” và để chút ít tâm tư chiếu cố đến những ý nghĩa sâu xa chân thật ở đây. Âu cũng là một cơ duyên may mắn cho Phật giáo Đại thừa vậy!
Mùa Vu Lan năm Bính tuất 2006
Vô Liêu Tịch Tĩnh Trai
Thích Tịnh Nghiêm cẩn chí
Lời Tựa
Bản dịch Hán văn
Bồ Tát Giới là cương lĩnh của vạn hạnh, kho tàng của phước đức, bậc thang lên quả Phật, đường Chánh đến Niết bàn.
Từ khi Đấng Đại Giác ứng thế, khai thị pháp môn tự lợi lợi tha, xiển dương giáo pháp Hiển thừa, Mật thừa, đưa chúng sinh lên Thập địa, độ hữu tình ra ba cõi, phương tiện tuy vô lượng vô biên, nhưng không có phương tiện nào mà không dùng giới luật làm thuyền bè, lấy thi la làm bờ bến. Tu giới hạnh nên nghiệp ác diệt trừ, tự thành thục mà chúng sinh lợi ích. Chí cực thay Giới độ! Hành địa của Bồ tát còn có chỗ vượt ngoài phạm vi này chăng? Đáng buồn thay, đời mạt pháp suy, giới luật không còn ai giảng giải! Chỉ trì, tác trì mất đi chánh quỹ, tu tập, phụng hành oai lệch hành nghi. Muốn vượt biển khổ mà không nghiêm trì giới đức, thì cũng giống như voi cuồng đi lạc đường tà. Đạo pháp mịt mờ, âu cũng là nỗi lo của Bồ tát vậy!
May thay, Bậc Thượng sư của chúng ta, Thánh Tsong Kha Pa, Bậc trí tuệ khai ngộ siêu việt hơn đời, Đấng giới đức uy nghiêm vượt xa thế tục, xuất sinh ở Cam Ninh, trưởng thành tại Tây Tạng, học nhiều hiểu rộng, thâm nhập Thánh giáo, hoằng dương Chân Thừa, quang hiển Chánh Pháp. Mở đường đạt đạo cho ba loại căn cơ, bày sự thâm sâu của Hiển giáo, Mật giáo. Đây chính là đắp đường phẳng đến Niết bàn, chấn uy phong cho giới luật. Ngài đã tham khảo luật tạng mà tạo nên bộ luận này, thống nhiếp vạn hạnh thành ba tụ, bao quát ức độ vào chín loại. Chỗ xả bỏ, tức là mười tám tội tha thắng, bốn mươi lăm tội vi phạm, chỗ giữ lấy, tức là giới biệt giải thoát của bảy chúng, cùng các học xứ lục độ, tứ nhiếp, lại còn thâu nhiếp bổn nghĩa của các bộ luận Du Già, Học Tập, dung hợp ý thú của các ngài Long Thọ, Vô Trước, y cứ rộng rãi vào các sớ giải của kinh luận để xiển minh hành tướng giới luật, nghi quỹ thọ giới, cùng hành tướng của sự phòng hộ tịnh giới.
Hai thừa Hiển, Mật, xả bỏ giới luật thì không còn là con đường đạo mà Bồ tát ba đời đều phải học tập. Đây quả thực là Thuyền Từ trong việc độ thế, Diệu Phẩm cho sự xuất ly.
Hương Danh, lúc ở cố đô học pháp, từng nghe vị Thượng sư họ Tân nói: “Bộ luận này, ý chỉ sâu xa, nghĩa lý tinh xác. Người tại gia, xuất gia học tập Phật pháp ở Tây Tạng, bất luận Hiển giáo hay Mật giáo, không ai mà không nghiên cứu, dùng đây làm pháp thức cho sự tu hành.”
Hôm nay, nhân cơ duyên thành lập Bồ Đề Học Hội, với tông chỉ hoằng truyền Phật pháp, Hương Danh bèn đem quyển luận này trưng bày trước đại chúng, nguyện ý phiên dịch, mọi người trong hội nghe qua đều nhiệt liệt tán đồng, nhân đây, vào tháng tám năm Giáp tuất (1934) thiết lập Dịch Kinh Xứ, ủy nhiệm Hương Danh chủ quản sự việc này. Hương Danh đã cung cẩn y vào bản Tạng văn của chùa Tung Chúc ở Bắc Kinh san hành mà phiên dịch. Khi gặp ý nghĩa khó hiểu thì đến nhờ sự chỉ giáo của vị Đạo sư của Bồ Đề Học Hội là Thượng sư Vinh Tăng, qua sự thông dịch của ông Ngô Kiếm Quân, hơn nữa, lại còn được ông Cao Quán Như giúp đỡ hiệu đính lời văn. Đến tháng tư năm sau, Ất hợi (1935) thì phiên dịch hoàn tất.
Hương Danh, học thức thô thiển, chưa thể hiểu thấu ý nghĩa sâu xa khó dò, e rằng bản dịch mất đi phần nào ý nghĩa chân thực. Nguyện các bậc cao đức Phật giáo, từ bi chỉ chánh những chỗ sai lầm, làm sáng tỏ những nơi tăm tối.
Xin nguyện Tam Bảo gia hộ, chứng minh lòng thành của con, khiến cho Diệu Pháp được phổ cập, để mọi người đều được ngồi trên thuyền Giới Luật, đến thẳng nơi Phật Địa.
Tiết Mạnh Hạ, Dân Quốc năm Ất Hợi (1935), Thang Hương Danh kính ghi ở Thượng Hải Dịch Kinh Xứ.
|