Bồ Tát
Hạnh
(Bodhicaryàvatàra)
Santideva (Bình Thiên)
Thích Trí Siêu
dịch
-ooOoo-
Kính dâng sách này
lên
Hòa Thượng Bổn Sư thượng Huyền hạ Vi
và Lama Guendune
Rinpoché
-ooOoo-
Lời Tựa
Mục đích chung của người tu
Phật là cầu giác ngộ giải thoát, nhưng đối với người theo Phật giáo Ðại
Thừa thì mục đích chính là phải cầu thành Phật.
A La Hán cũng giác ngộ giải
thoát, Bích Chi Phật cũng giác ngộ giải thoát, chư Tổ Thiền cũng giác ngộ
giải thoát, nhưng các Ngài vẫn chưa phải là Phật. Nhưng tại sao lại phải
cầu thành Phật chứ? Ðược giác ngộ giải thoát chưa đủ sao?
- Chưa đủ! Ðủ làm sao được đối
với người đã hiểu, đã thấy tất cả chúng sinh chính là mình, mình chẳng
khác với chúng sinh; cái khổ của chúng sinh chính là cái khổ của mình và
sự giải thoát của chúng sinh cũng là sự giải thoát của mình. Nếu chưa hiểu
được vậy thì ít nhất cũng phải suy nghĩ, từ vô thỉ đến nay, trôi lăn trong
sinh tử luân hồi tất cả chúng sinh đều đã ít nhất một lần làm cha mẹ ta,
đã nuôi nấng, thương yêu, chăm sóc ta chẳng quản khó nhọc, nhiều khi còn
phải hy sinh tánh mạng vì ta. Như thế, ta nỡ lòng nào cầu giác ngộ giải
thoát một mình? Nhưng chúng sinh đông quá làm sao độ cho hết? Ðại A La Hán
kia như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên còn chỉ độ được vài trăm đệ tử, nói chi
ta đây là kẻ phàm phu? Ðành rằng các vị A La Hán là những người giác ngộ
giải thoát, nhờ chuyên tu thiền định, diệt trừ phiền não, song từ những
kiếp xa xưa, các ngài không lập những thệ nguyện rộng lớn vì chúng sinh,
không dám xả thí thân mạng, tài sản, vợ con, không biết gần gũi, thân cận,
cúng dường chư Phật, Bồ Tát, Thiện tri thức. Do đó các ngài chưa có đủ
công đức, trí huệ, hùng lực như chư Phật. Chỉ có Phật mới đầy đủ khả năng
giáo hóa, cứu độ chúng sanh vô lượng. Ngoài ra trong kinh Pháp Hoa và Niết
Bàn, đức Phật đã khai thị rõ về Phật tánh, khuyên nhắc chúng sinh cầu Phật
quả. Chúng ta là con Phật (Phật tử) thì phải cố gắng được như cha của mình
chứ! Bước đầu tiên là chúng ta phải phát nguyện cầu thành Phật để cứu độ
chúng sinh. Sự phát nguyện (hay tâm niệm) đó gọi là Bồ Ðề Tâm
(Bodhicitta). Khi vừa phát tâm như vậy thì chúng ta liền trở thành một Bồ
Tát (Sơ phát tâm). Chư Phật ba đời cũng đều phát xuất từ chư Bồ Tát, do đó
trong kinh Bảo Tích Ðức Phật đã không ngớt khen ngợi và đề cao hàng Sơ
phát tâm Bồ Tát: "Hàng Sơ phát tâm Bồ Tát, tuy căn tánh Bồ Tát chưa đầy
đủ, đức tướng Bồ Tát chưa trọn vẹn hiển bày cho mọi người thấy được, nhưng
các Thiện Thần Vương hết lòng tôn trọng đến hộ vệ... Bồ Tát Sơ phát tâm
chưa có công đức gì, nhưng đem so với A La Hán vẫn còn cao hơn ... Này Ca
Diếp! Thí như hạt châu lưu ly nhỏ mà giá trị hơn là khối thủy tinh lớn như
núi Tu Di. Bồ Tát cũng như vậy, ngay từ khi phát tâm cũng đã hơn hàng
Thanh Văn, Bích Chi (tr 142, kinh Bảo Tích do T.T. Ðức Niệm dịch). Do đó,
khi vừa phát tâm Bồ Ðề thì liền trở thành Bồ Tát, không cứ phải đến các
Ðại Giới Ðàn thọ Bồ Tát giới mới được xem là Bồ Tát. Nói như vậy không có
nghĩa là bác bỏ việc thọ giới, ngược lại hành giả Ðại Thừa rất nên cầu thọ
giới pháp, vì thọ (hay truyền) giới trong sự trang nghiêm, đúng phép rất
có lợi ích, nó có khả năng tác động mạnh vào tâm khảm của giới tử, và nếu
giới tử thanh tịnh thành khẩn thì được xem là đắc giới. Nhưng thọ Bồ Tát
giới và chỉ lo giữ giới Bồ Tát không chưa đủ để được xem là Bồ Tát. Bồ Tát
giới chỉ là hàng rào ngăn chặn giúp hành giả Bồ Tát không bị sa đọa, đó là
phần tiêu cực.
Hành giả Bồ Tát phải tích cực
hành Bồ Tát hạnh, nghĩa là mỗi hành động, mỗi lời nói, mỗi ý niệm đều
hướng về chúng sinh, vì lợi ích chúng sinh. Khi tụng một thời kinh thì
trên cúng dường chư Phật, dưới cầu cho pháp âm tỏa khắp pháp giới làm lợi
ích chúng sinh. Ngồi thiền dù chỉ năm phút cũng cầu giác ngộ bổn tánh. Ðể
làm gì? Ðể cứu độ chúng sinh. Niệm Phật dù chỉ mười câu cũng không quên
hồi hướng công đức cho chúng sinh. Ðược như thế mới xứng đáng là Bồ Tát,
là trưởng tử của Như Lai. Ðâu cứ phải làm chùa to, tượng lớn mới gọi là Bồ
Tát. Nói như vậy không có nghĩa là đả kích việc làm chùa to, tượng lớn, vì
chùa to, tượng lớn cũng chỉ là vật vô tri, tự nó đâu có lỗi lầm gì, chẳng
qua tùy thuộc nơi người làm, nếu làm với tinh thần vô ngã, bất vụ lợi, vì
lợi ích chúng sinh thì rất được xưng tán, cúng dường.
Sau khi phát tâm Bồ Ðề (còn gọi
là Bồ Ðề Tâm nguyện), hành giả Bồ Tát cần phải noi theo gương của chư Bồ
Tát quá khứ, hiện tại, vị lai, hành Bồ Tát Hạnh (còn gọi là Bồ Ðề Tâm
Hạnh). Bồ Tát Hạnh được nói nhiều trong kinh Hoa Nghiêm và Ðại Bát Nhã,
nhưng lời kinh quá thâm diệu và chư Bồ Tát nhất là trong kinh Hoa Nghiêm
đều là những bậc Ðại Sĩ Bồ Tát đã phát tâm Bồ Ðề và thực hành Bồ Tát Hạnh
từ quá khứ vô lượng vô biên kiếp hải. Do đó chúng ta, hàng Sơ phát tâm Bồ
Tát chỉ biết đảnh lễ hoặc lắc đầu thè lưỡi, không dám hoặc không biết làm
sao noi theo. Hạnh của Bồ Tát tuy nhiều vô lượng vô biên nhưng tóm lại
không nằm ngoài Thập Ba La Mật hay Lục Ba La Mật, và như thế chúng ta có
thể bắt đầu học hỏi và tu tập Lục Ba La Mật, còn gọi là Lục Ðộ.
Người học Ðạo nên có tinh thần
như của Thiện Tài Ðồng Tử, tức là không bao giờ cho sự hiểu biết đạo lý
hay chứng đắc của mình là đủ, luôn luôn tìm thầy hoặc thiện tri thức tham
vấn học hỏi. Nếu không có duyên gặp được thầy lành bạn tốt thì ít nhất
cũng phải nương theo Kinh, Luật, Luận vạch cho mình một hướng đi áp dụng
vào đời sống hằng ngày.
Vào cuối hạ năm 89, tôi có dịp
gặp Guéshé Tengyé, Viện Trưởng Tu Viện Vajrayogini ở Lavaur, thấy ngài đọc
một quyển sách. Hỏi ra, tôi được biết đó là Bodhicaryàvatàra (Bồ Tát Hạnh)
và cũng là kinh nhật tụng của ngài. Rồi ngài hỏi lại tôi: "Có là Bồ Tát
không, nếu là Bồ Tát thì phải đọc Bồ Tát Hạnh". Thế là từ đó trở về, tôi
tìm đọc và nghiên cứu Bồ Tát Hạnh. Mãi đến năm nay, gặp nhân duyên và được
khuyến khích nên tôi mạo muội dịch tập sách này vì thấy những hạnh Bồ Tát
nằm trong đó có vẻ gần gũi với chúng ta (hàng Sơ phát tâm Bồ Tát) hơn là
trong các kinh như Hoa Nghiêm, Bát Nhã... Tuy có học được một chút Tạng
ngữ, nhưng tự thấy chưa đủ để có thể dịch hoàn toàn từ Tạng văn ra Việt
văn nên cuối cùng tôi nương vào 3 tài liệu sau:
1.
Byang.chub.sems.dpai'.spyod.pa.la.'jug.pa: bản Tạng văn.
2. La marche
à la lumière: bản Pháp văn dịch từ Phạn văn của Louis Finot.
3. A
guide to the Bodhisattva's way of life: bản Anh văn dịch từ Tạng văn của
Stephen Batchelor.
Bồ Tát Hạnh nguyên bản Phạn văn
là một loại thi ca, viết theo văn vần, gồm 913 bài kệ, chia làm 10 chương.
Bản Tạng văn cũng được dịch theo văn vần. Nhưng ở đây, trước hết vì không
phải là thi sĩ, sau nữa tôi noi theo các bản dịch đã có trước bằng Anh và
Pháp văn, viết theo văn xuôi dễ hiểu cho người đọc.
Tác giả tập Bồ Tát Hạnh là Tôn
Giả Santideva (Bình Thiên) người Ấn Ðộ, sống vào khoảng thế kỷ thứ 7 (xin
xem tiểu sử ở chương sau). Trong tập sách này tôn giả đi từ Xưng tán Bồ Ðề
Tâm, Sám hối, Lục Ðộ và sau cùng đến Hồi Hướng công đức. Bạn đọc có thể
ngạc nhiên không thấy nói về Bố Thí, nhưng phát Bồ Ðề Tâm và hành Bồ Tát
Hạnh đã là một sự bố thí cao thượng lắm rồi, ngoài ra Bố Thí được bàng bạc
nói đến trong các chương sau. Riêng trong phẩm Thiền Ðịnh, tôn giả nhấn
mạnh tới lối sống ẩn dật nơi rừng núi, hoặc những nơi thanh vắng để tu tập
quán chiếu về Vô Ngã. Trong phẩm Trí Huệ, tôn giả Santideva (thuộc trường
phái Trung quán) lập cuộc đối thoại tranh luận giữa ngài và các trường
phái khác, cốt để xiển dương Tánh Không. Có nhiều đoạn quá xúc tích nên
tôi thêm vào những chú thích ở cuối trang giúp bạn đọc hiểu rõ
hơn.
Rất mong Bồ Tát Hạnh sẽ bổ túc
cho Bồ Tát Giới. Bạn đọc có thể học thuộc lòng vài phẩm, vài đoạn hoặc đọc
tụng, cũng như các thiền sinh thuở trước học thuộc Quy Sơn Cảnh Sách, hoặc
như tu sĩ Nam Tông thuộc làu kinh Pháp Cú vậy. Ðọc tụng để những tư tưởng
Bồ Tát thâm nhập vào tâm và từ đó sẽ khởi ra hiện hành hướng dẫn ta trong
từng ý nghĩ, từng lời nói, từng hành động đúng theo hạnh mà chư Bồ Tát đã
làm.
Sau cùng tôi xin ghi ơn Dagpo
Rinpoché, giáo sư Phật học và Tạng ngữ tại đại học INALCO Paris Dauphine,
đã giảng dạy và giải đáp nhiều thắc mắc cho tôi, Jenny Tcheuden đã cung
cấp cho tôi tài liệu, Thérésa Scott-Carroll và phật tử Chúc Tịnh đã khuyến
khích tôi soạn dịch tập sách này. Tuy vậy, bản dịch chắc còn nhiều thiếu
sót, vụng về, trách nhiệm đó hoàn toàn về du tăng. Rất mong sau này sẽ có
các bậc cao minh giảo chính lại cho hoàn hảo hơn.
Xin hồi hướng công đức này cầu
cho tất cả chúng sinh ý thức được sự vô thường, đau khổ của cuộc đời, đồng
phát tâm Bồ Ðề và đồng sanh Tây phương Cực Lạc.
Thanh Sơn Lộ, tháng 7 năm
1990.
Thích Trí Siêu.
-ooOoo-
Tiểu Sử Tôn Giả
Santideva
Theo truyền thuyết, tôn giả
Santideva sinh ở miền Nam Ấn, vùng Sri Nagara vào khoảng thế kỷ thứ 7.
Ngài là thái tử con vua Surastra.
Từ những kiếp quá khứ, ngài đã
cúng dường phụng thờ nhiều đức Phật và đã tích tụ nhiều căn lành đưa đến
giải thoát. Nhờ phước đức ấy nên ngay từ lúc ấu thơ, ngài đã nhiều lần
chiêm bao thấy Văn Thù Bồ Tát. Lớn lên, đến tuổi sắp được vua cha truyền
ngôi, một hôm ngài nằm mộng thấy hai vị Bồ Tát : Văn Thù và Tara [1]. Bồ
Tát Văn Thù ngồi trên ngai vàng, bảo ngài rằng: "Ở đây không có chỗ cho
hai người"; Bồ Tát Tara tưới nước nóng trên đầu ngài nói rằng: "Vương
quyền chính là nước sôi bỏng của địa ngục. Ta đang tấn phong cho ngươi với
nước này đây".
Tĩnh dậy, ngài hiểu rằng đó là
sự khuyến cáo của hai vị Bồ Tát nên đêm hôm trước ngày lên ngôi, ngài rời
bỏ cung thành trốn vào rừng sâu. Sau 21 ngày lang thang trong rừng, vừa
khát vừa đói, ngài gặp được một con suối, sắp sửa định uống thì có một
thiếu nữ xuất hiện bảo ngài đừng uống vì đó là nước độc. Sau đó thiếu nữ
dâng cho ngài một thứ nước thơm như cam lồ. Giải khát xong, ngài hỏi thiếu
nữ: "Cô ở đâu đến?"
- Thiếu nữ trả lời: "Ở giữa khu
rừng mênh mông này là nơi thầy tôi ở, ngài rất đạo đức, từ bi và đã thành
tựu phép tam muội của Văn Thù Kim Cang Sư Lợi (Sri Manjuvajra). Tôi từ đó
đến đây". Vừa nghe như thế, tôn giả Santideva mừng rỡ như kẻ nghèo bắt
được vàng, yêu cầu thiếu nữ dẫn ngài đến gặp vị thầy kia. Ðến nơi ngài
thấy đó là một hành giả Du Già (Yogi) sống trong một chòi lá. Ngài liền
đảnh lễ, xưng tán cúng dường và cầu xin được truyền phép tam muội của Văn
Thù Bồ Tát.
Sau 12 năm ở đó tu tập, ngài
chứng được phép tam muội trên, thấy được vị thầy kia chính là Văn Thù và
thiếu nữ kia chính là Tara.
Kể từ đó, ngài luôn luôn được
thấy Văn Thù Bồ Tát. Sau đó ngài đi về phương đông, xin vào làm việc trong
triều của vua Pancamasimha. Nhờ tài giỏi và thông minh nên ngài được vua
trọng vọng cho làm Thừa Tướng. Ðể tỏ lòng thành kính nhớ ơn vị thần linh
thủ hộ của mình, tức Văn Thù Bồ Tát, ngài luôn đeo trên mình một thanh
kiếm gỗ [2].
Ngài giúp vua trị vì đúng theo
Phật Pháp và truyền dạy nhiều kỹ nghệ mới lạ. Ðiều đó khiến các vị đại
thần khác ganh tức, tìm cách dèm pha và hãm hại ngài. Họ bảo vua rằng:
"Thừa tướng là một người gian xảo, luôn đeo trên mình một thanh kiếm mà
không bào giờ rút ra cho ai xem cả. Chúng tôi biết thanh kiếm ấy làm bằng
gỗ. Gặp lúc nguy biến làm sao Thừa tướng có thể cứu nguy cho Bệ hạ được?
Xin Bệ hạ hãy khám nghiệm lại". Vua tin lời, cho triệu Thừa tướng vào bắt
phải rút kiếm ra khỏi vỏ cho vua xem. Thừa tướng nói: "Kiếm của tôi, Bệ hạ
không thể nhìn được, nếu không Bệ hạ sẽ hối hận". Nghe vậy, vua càng nghi
ngờ nhất quyết đòi xem. Cuối cùng Thừa tướng tâu: "Nếu Bệ hạ nhất quyết
muốn xem thì hãy theo tôi đến chỗ vắng, lấy tay che mắt phải lại, chỉ nhìn
bằng mắt trái thôi". Vua chấp thuận và Thừa tướng rút kiếm ra, hào quang
lóe lên quá mạnh khiến con mắt trái của Vua rơi xuống đất. Vua liền ăn năn
hối hận, biết ngài là một người đắc đạo, một Ðại thành tựu giả [3] nên cầu
xin sám hối. Biết vua đã ăn năn, Thừa tướng nhặt mắt trái của vua bỏ vào
tròng lại khiến vua khỏi mù.
Sau đó tôn giả từ bỏ chức Thừa
tướng, tìm đến Tu viện Nalanda, xuất gia thọ giới, được đặt tên là
Santideva. Sau khi nghe hết 3 tạng kinh điển, tôn giả thầm biên soạn 3 bộ
luận: Siksasamuccaya, Sutrasamuccaya và Bodhicaryavatara. Ngài tu mật
hạnh, học trực tiếp với Văn Thù Bồ Tát trong thiền định. Tất cả thời ăn,
ngủ, đi, đứng, ngài đều thiền quán về Thanh Quang (Eussel, Clear Light).
Tuy vậy chúng tăng bên ngoài thấy ngài chỉ ăn với ngủ không chịu văn, tư,
tu gì cả. Thấy thế, một số Thượng tọa học giả họp nhau lại định tống khứ
ngài ra khỏi tu viện. Có người cho ý kiến: "Nếu chúng ta họp lại, bắt mỗi
người phải tuần tự trùng tuyên lại Kinh Luận, chắc chắn y sẽ phải tự động
rút lui, rời bỏ Tu viện vì y chỉ ăn với ngủ đâu có bao giờ tu học gì". Thế
rồi đến phiên tôn giả Santideva phải trùng tuyên lại Kinh Luận, ban đầu
ngài từ chối, nói rằng không biết gì. Chúng tăng muốn làm nhục ngài nên
làm bộ nài nỉ, cuối cùng ngài nói: "Nếu vậy phải làm cho tôi một tòa sư tử
[4] tôi mới trùng tuyên". Nghe vậy có vài người đâm ra nghi ngờ, nhưng đa
số chấp thuận vì tin rằng ngài không thể trùng tuyên Kinh Luận gì
được.
Sau khi lên ngồi tòa sư tử,
ngài hỏi: "Các vị muốn tôi tụng lại Kinh Luận đã có từ trước hay những
sáng tác mới sau này". Vì muốn chế diễu ngài nên đại chúng nói: "Những
sáng tác mới sau này".Thế là ngài bắt đầu tụng lên Bồ Tát Hạnh
(Bodhisattva-carya-vatara). Khi tụng đến câu: "Khi Có và Không không còn
khởi lên trong tâm..." thì ngài bay lên hư không rồi từ từ biến mất, nhưng
tiếng của ngài còn vọng lại cho đến câu kệ cuối cùng của Bồ Tát Hạnh.
Không thấy ngài nữa, tăng chúng hối hận trở về phòng ngài tìm kiếm, thấy
trên bàn để lại 3 quyển: Sutrasamuccaya [5], Siksacamuccaya và Bodhicaryavatara.
Chú thích:
[1] Tara là một hóa thân hình
nữ của Quán Thế Âm, trong Phật giáo Ấn Ðộ và Tây Tạng được nói đến rất
nhiều. Quán Thế Âm, khi nhìn thấy chúng sinh đau khổ, ngài nhỏ lệ từ bi
và giọt lệ này rơi xuống hóa thành Tara.
[2] Văn Thù Bồ Tát, thường
hiện thân, tay phải cầm kiếm trí tuệ, tay trái cầm kinh Bát
Nhã.
[3] Mahasiddha: người tu hành
đắc đạo có thần thông.
[4] Simhasana: tòa ngồi chỉ
dành cho những hàng Tỳ Kheo Trưởng lão Pháp sư.
[5] Hai tập Siksasamuccaya
(Giáo Tập Yếu) và Bodhicaryavatara (Bồ Tát Hạnh) chắc chắn tác giả là
ngài Santideva, riêng tập Sutrasamuccaya, đa số các học giả đều công
nhận tác giả là ngài Long Thọ (Nagarjuna). Tiểu sử này tôi rút tỉa từ 2
tài liệu History of Buddhism in India của Taranatha và La Légende de
Santideva trong Indo-Iranian Journal Volume XVi. Trong tạng luận của Tây
Tạng có nói đến bộ Mdo.sde.sna.tshogs.kyi.mdo.btus.pa mà học giả
Marcelle Lalou đã chuyển sang lại Sanskrit là Visvasutrasamuccaya, tập
này ngày nay đã bị mất tích. Theo học giả J.W.DeJong thì có lẽ 2 tập này
tương tựa nhau nên các sử gia Tây Tạng và luận gia Ấn Ðộ cùng cho tác
giả của Kinh Tập Yếu (Sutrasamuccaya) là ngài Santideva. Kinh Tập Yếu đã
được Hòa Thượng Linh Sơn thượng Huyền hạ Vi dịch từ Hán văn ra Việt văn
năm 1985 với tựa đề là Yếu Nghĩa Phật Pháp.
-ooOoo-
|